Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT DÂN SỰ - HÌNH SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT DÂN SỰ - HÌNH SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Con không có quyền hủy di chúc của cha mẹ



Nội dung di chúc có nhiều điều không hợp lý, chúng tôi có quyền đề nghị tòa hủy di chúc của cha mẹ hay không? Trường hợp, chúng tôi tự thỏa thuận phân chia khác có được không?

Khi còn sống cha mẹ tôi đã lập di chúc thừa kế tài sản cho các con. Do anh chị em chúng tôi mâu thuẫn nên đã kiện ra tòa án chia thừa kế. Nội dung di chúc có nhiều điều không hợp lý, có người khuyên chúng tôi đề nghị tòa hủy di chúc.

Cho hỏi chúng tôi có quyền đề nghị tòa hủy di chúc của cha mẹ hay không? Trường hợp, chúng tôi tự thỏa thuận phân chia khác với di chúc thì có được không?

Tôi xin cảm ơn.
Hoài Thu

Theo quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Như vậy, pháp luật đã công nhận cá nhân có quyền lập di chúc thì những người hưởng thừa kế theo di chúc có nghĩa vụ tôn trọng di chúc, tôn trọng ý chí của người lập di chúc (trừ trường hợp di chúc được xác định là không hợp pháp).

Điều 652 Bộ luật Dân sự quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự, trường hợp di chúc được xác định là không hợp pháp thì di sản thừa kế được chia theo pháp luật. Việc xác định di chúc hợp pháp hay không hợp pháp thuộc thẩm quyền của tòa án.

Về việc hủy di chúc, Bộ luật Dân sự không có điều luật nào quy định cho phép những người thừa kế theo di chúc có quyền đề nghị Tòa án hủy di chúc (hoặc các đương sự tự hủy di chúc) bất luận di chúc đó hợp pháp hay không hợp pháp. Chỉ người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ.

Pháp luật về thừa kế cũng quy định đối với di chúc chung của vợ, chồng thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các thừa kế trong việc nhận di sản thừa kế, pháp luật cũng cho phép kể cả trường hợp di chúc được xác định là hợp pháp nhưng các thừa kế tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản khác với nội dung di chúc (với điều kiện nội dung thỏa thuận đó không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội) và có đề nghị tòa án thì tòa án cũng có thể xem xét và công nhận thỏa thuận này. Trường hợp này mặc dù di chúc không được sử dụng nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc tòa án hủy di chúc.

Như vậy, từ các quy định mà chúng tôi viện dẫn thì các anh chị em của bạn không có quyền đề nghị tòa hủy di chúc của cha mẹ để lại. Trường hợp các con tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản khác với nội dung di chúc mà sự thỏa thuận đó phù hợp với các điều kiện nói trên thì có quyền đề nghị Tòa án xem xét, công nhận.

Luật sư Vũ Tiến Vinh
Công ty Luật Bảo An
41 Trần Hữu Tước, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội


Người bán dâm bị xử phạt thế nào?

Qua báo chí, tôi biết có tình trạng nhiều nữ sinh viên, người mẫu, diễn viên… bị cảnh sát phát hiện tham gia đường dây bán dâm. Xin hỏi quy định pháp luật về việc xử lý những người này như thế nào? Trường hợp nào bị xử phạt hành chính? Đưa vào trại phục hồi nhân phẩm? Xử lý hình sự?
Tô Đức Hoàng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003, bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Căn cứ quy định trên, pháp luật chỉ coi là “bán dâm” khi có hành vi giao cấu (hoặc chưa thực hiện được hành vi nhưng có mục đích giao cấu) giữa người mua với người bán dâm; và để thực hiện mục đích giao cấu người mua dâm phải trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác cho người bán. Các hành vi kích dục bằng tay, miệng… không phải là hành vi giao cấu, không được coi là hành vi bán dâm.

Về việc xử lý đối với người bán dâm, Điều 23 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm quy định: Người bán dâm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 18 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm, người nào có hành vi bán dâm bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng. Trường hợp bán dâm cho nhiều người cùng một lúc mức phạt tiền từ 300.000 đến 500.000 đồng. Trường hợp bán dâm có tính chất đồi trụy, mức phạt tiền từ 500.000 đến một triệu đồng.

Điều 18 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP cũng quy định người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên, có nơi cư trú nhất định bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi trở lên, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Trường hợp người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 117 Bộ luật hình sự. Theo đó, họ có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 đến 7 năm: đối với nhiều người; đối với người chưa thành niên; đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình; đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 114 Phan Kế Bính, Ba Đình, Hà Nội


Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Con bị cha mẹ từ vẫn được hưởng thừa kế


Theo quy định tại Điều 676, Bộ luật dân sự năm 2005, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Bạn là con đẻ do đó thuộc hàng thừa kế thứ nhất, hoàn toàn có quyền được hưởng di sản thừa kế nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 643.

Điều 643 quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”

Như vậy, hiện nay pháp luật Việt Nam không tước quyền thừa kế theo pháp luật của người con trong trường hợp cha, mẹ từ con.

Nếu chỉ vì bạn bỏ nhà theo người yêu vào Nam sinh sống dẫn đến việc cha mẹ tuyên bố từ mặt mà không phải vì những lý do theo quy định tại Điều 643. Cha mẹ bạn mất không để lại di chúc, bạn vẫn được hưởng di sản thừa kế.

Luật sư Trương Anh Tú
Văn phòng luật sư Trương Anh Tú

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi sẽ bị xử lý


Những người có hành vi ép buộc trẻ em làm ăn xin, bán vé số, trộm cắp... để kiếm lời có bị pháp luật xử lý không, nếu có sẽ thế nào?
Ngân An

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 và khoản 2 Điều 4 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, hành vi bắt trẻ em, tập hợp, chứa chấp trẻ em, cho thuê, cho mượn trẻ em để đi lang thang kiếm sống, ăn xin hoặc thực hiện các hoạt động khác nhằm mục đích trục lợi là một trong những hành vi vi phạm quyền trẻ em, và nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền trẻ em, đặc biệt là với mục đích trục lợi đều phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Tùy thuộc vào mức độ, tính chất nghiêm trọng của hành vi, họ có thể bị xử lý hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.


Theo quy định tại Nghị định số 91/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đối với hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc, khống chế trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị xử lý như sau:

Phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi tập hợp, chứa chấp trẻ em lang thang để bán vé số, sách, báo, tranh, ảnh, bán hàng rong hoặc các hoạt động khác nhằm mục đích trục lợi” (khoản 3 Điều 10).

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số tiền có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 3 Điều này (điểm b khoản 4 Điều 10).

Đối với hành vi đánh đập, hành hạ, ngược đãi trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 91/2011/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm có thể bị xử lý như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 1-5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Đánh đập, xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khoẻ đối với trẻ em;
b) Đối xử tồi tệ với trẻ em như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân, bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm; ngăn cản trẻ em tham gia hoạt động xã hội, sinh hoạt cộng đồng hợp pháp, lành mạnh;
c) Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;
d) Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau đớn về thể xác và tinh thần;
đ) Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương tinh thần.

2. Phạt tiền 5-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Tổ chức, bắt trẻ em đi xin ăn;
b) Cho thuê, cho mượn trẻ em hoặc sử dụng trẻ em để xin ăn.
Tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị buộc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Buộc cá nhân, tổ chức chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
- Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khoẻ trẻ em; thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này;
- Buộc cá nhân, tổ chức nộp lại số tiền có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 Điều này;
- Buộc cá nhân, tổ chức chịu mọi chi phí để đưa trẻ em trở về với gia đình, gia đình thay thế hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em do thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 Điều này (khoản 3 Điều 13).

Ngoài ra, trong trường hợp tổ chức, cá nhân có hành vi ép buộc trẻ em thực hiện hành vi phạm tội, họ còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp theo quy định tại Điều 252 Bộ luật hình sự.

Như vậy, để ngăn chặn việc một số cá nhân ép buộc trẻ em đi ăn xin, bán vé số, trộm cắp... để kiếm lời, bạn cần tố cáo hành vi phạm pháp luật của các cá nhân đó cho các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương biết để có thể kịp thời ngăn chặn, xử lý và đảm bảo an toàn cho các cháu.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 114, Phan Kế Bình, Ba Đình, Hà Nội.


Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Yêu người khác khi đang ly thân sẽ bị phạt


Có được yêu người khác khi chờ ly hôn?

Vợ chồng tôi ly thân được 6 năm. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn rất tôn trọng nhau. Nhiều lần, tôi đưa đơn ly hôn nhưng cô ấy không ký với lý do chờ con trưởng thành.

Gần đây, tôi đã đơn phương nộp đơn đến tòa án xin ly hôn và đang chờ được giải quyết. Nếu trong thời gian này tôi chung sống với phụ nữ khác thì có bị coi là ngoại tình không, có ảnh hưởng gì với phán quyết ly hôn của tòa?
Mạnh Hùng

Hiện nay, khi cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nhưng vì con cái đã lớn nên nhiều cặp không ly hôn mà chọn giải pháp ly thân. Tuy nhiên, ly thân lại chưa được Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, do đó dù vợ chồng đã xa nhau thời gian dài thì cũng không phải lý do để tòa xử cho ly hôn. Việc ly thân và thời gian ly thân chỉ là một trong các dấu hiệu phản ánh tình trạng hôn nhân mà trên cơ sở đó tòa án xem xét có chấp thuận cho việc ly hôn hay không.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình thì khi xét xử, tòa án xét thấy “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn”.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì:

1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được phải căn cứ tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại mục 1 nói trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Tuy nhiên, luật không đòi hỏi tình trạng mâu thuẫn vợ chồng phải thỏa mãn tất cả các dấu hiệu nêu trên như: đánh chửi nhau, xúc phạm nhau, vợ hoặc chồng ngoại tình… thì Tòa mới xử cho ly hôn. Nhiều trường hợp tình trạng mâu thuẫn chỉ là ngoại tình nhưng tòa án xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được thì tòa cũng xem xét xử cho ly hôn.

Về việc vợ chồng anh đang ly thân nhưng nếu anh lại chung sống với người phụ nữ khác thì không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức. Khi Tòa án chưa xử cho ly hôn và bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật thì anh và vợ anh vẫn là vợ chồng, vẫn trong thời kỳ hôn nhân. Luật Hôn nhân và gia đình cũng như Bộ luật hình sự nghiêm cấm người đang có vợ hoặc có chồng lại chung sống với người khác như vợ chồng.

Tùy theo mức độ, hậu quả gây ra mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Về mức xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại Nghị định 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 thì người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ 100.000 đến 500.000 đồng.

Nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm có thể thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (Điều 147 Bộ luật Hình sự)

Luật sư Vũ Tiến Vinh
Công ty Luật Bảo An, Hà Nội

Con đẻ và con nuôi được phép kết hôn


Năm tôi 5 tuổi, bố mẹ nhận bé gái bị bỏ rơi làm con nuôi. Quá trình chung sống bên nhau đã khiến anh em tôi nảy sinh tình cảm. Nay, tôi và em nuôi muốn kết hôn với nhau có được pháp luật công nhận không? Điều kiện để chúng tôi được kết hôn?
Vũ Minh Quân

Theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, pháp luật cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây: Người đang có vợ hoặc có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; Giữa những người cùng giới tính.

Đối chiếu với điều luật trên, con đẻ và con nuôi không thuộc vào trường hợp cấm kết hôn. Do đó, về nguyên tắc, bạn và người em nuôi có thể kết hôn với nhau song phải bảo đảm các điều kiện về kết hôn mà pháp luật hôn nhân và gia đình quy định.

Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.

Theo đó, điều kiện để bạn và người em nuôi được kết hôn với nhau là:

- Về độ tuổi: bạn phải từ 20 tuổi trở lên, người em nuôi từ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, luật không bắt buộc bạn phải từ đủ 20 tuổi trở lên, người em nuôi phải từ đủ 18 tuổi trở lên, do đó, chỉ cần bạn đã bước sang tuổi 20, người em nuôi đã bước sang tuổi 18 là có thể kết hôn mà không bị coi là vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.

- Về tính tự nguyện: Việc kết hôn phải do bạn và người em nuôi tự nguyện quyết định, không bên nào bị ép buộc, lừa dối, cũng như bị cưỡng ép, cản trở. Ví dụ, ép buộc bằng đe dọa dùng vũ lực hay vật chất, một bên lừa dối mình bị bệnh hiểm nghèo, mất khả năng sinh lý…

- Về các trường hợp cấm kết hôn: bạn và người em nuôi không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo phân tích ở trên.

Tóm lại, nếu bạn và người em nuôi của bạn đủ điều kiện về độ tuổi và tính tự nguyện theo quy định nêu trên, hai anh em bạn đủ điều kiện kết hôn với nhau và việc kết hôn đó được pháp luật công nhận khi thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 

Tuy nhiên, đây là trường hợp kết hôn khá “đặc biệt” nên bạn cũng cần lưu ý đến tập quán địa phương cũng như tranh thủ được sự ủng hộ của cha mẹ để việc kết hôn được thuận lợi, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc sau này.
Thạc sĩ, Luật sư Phạm Thanh Bình
Công ty Luật Bảo Ngọc

Truyền nhau xem clip sex là phạm tội


Theo Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995, sản phẩm văn hóa có nội dung đồi truỵ, khiêu dâm là những sản phẩm trong đó có những hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động khiêu gợi, kích thích dâm ô, truỵ lạc, vô luân, loạn luân trái với truyền thống đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc phổ biến bị nghiêm cấm.

Do đó, clip bạn quay trộm được xác định là clip sex, văn hóa phẩm có nội dung đồi trụy. Bạn lại copy và cho những người khác xem tức là đã "lưu hành" và "phổ biến".

Hành vi của bạn đã vi phạm điểm b, khoản 1, Điều 253 Bộ luật hình sự. Việc bạn có phạt tù hay không còn phụ thuộc vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng như năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bạn.

Điều 253 quy định, người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng lớn;
b) Phổ biến cho nhiều người;
c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Luật sư Trương Anh Tú


Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Đánh giá các phương pháp giải quyết xung động trong tư pháp quốc tế việt nam


ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
 “Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo”

A. MỞ ĐẦU

Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý… Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển. Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều HTPL đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một QHPL nào đó. 

Do vậy, sẽ có những cách thức để giải quyết các xung đột pháp luật nói trên như: phương pháp xung đột, phương pháp thực chất. Tuy nhiên, việc làm rõ những ưu điểm, hạn chế của chúng hay thực tế áp dụng các phương pháp này trong Tư pháp quốc tế như thế nào? Và việc áp dụng cụ thể các phương pháp trên tại Việt Nam ra sao sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong TPQT về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật cả về lý luận và thực tiễn.





© QuocNguyen